Kỹ nghệ đầu thai của Chúc Huyên chẳng mấy xuất sắc. Nàng sinh ra chốn thôn dã bần hàn, trong nhà chỉ có vài mẫu ruộng cằn cùng dăm ba con heo dê. Trên có huynh tỷ, dưới có đệ muội, miệng ăn trong nhà cứ cách ba năm lại tăng thêm đôi ba miệng.
Phụ thân ruột thịt quanh năm phiêu bạt bên ngoài, chẳng mấy khi chịu làm ăn đàng hoàng. Cũng may mẫu thân cùng ông bà nội đều là người chịu thương chịu khó, cần cù gánh vác gia đình. Kẹp ở giữa một nhà đông đúc, Chúc Huyên cứ thế lớn lên trong cảnh bữa no bữa đói dập dềnh.
Nếu không nhờ có một vị đồng hương xuyên không đặt chân đến triều đại phong kiến này, lập nên chính sách "ba năm giáo dục bắt buộc", thì một nữ nhi bản địa như Chúc Huyên, cả đời này có lẽ chỉ định sẵn gả cho Vương Nhị, Lý Tam ở thôn bên cạnh mà thôi.
Năm tròn sáu tuổi, Chúc Huyên bước chân vào trường xã học vỡ lòng.
Chính nhờ những trang sách ấy, cái tên của nàng mới được đổi sang chữ Huyên () mang nghĩa bay lượn trên trời cao.
Huyên giả, tiểu phi dã. Cánh chim nhỏ bay vút lên chín tầng mây, thẳng tiến chốn triều đình rực rỡ.
Vết đập cánh bướm của người xuyên việt đã hé mở một khe hở hẹp hòi dẫn tới chiếc thang thông thiên. Và Chúc Huyên, bằng sự may mắn cùng một cái đầu trước sau tỉnh táo tuyệt đối, đã chen chân bước vào.
Kỳ thi xuân năm ấy, chốn trường thi nghiêm cẩn bỗng điểm xuyết thêm bóng dáng quần thoa. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, nữ tử được phép tham dự khoa cử.
Khi bảng vàng Đệ nhất giáp xướng danh, cả triều đình chấn động kinh hoàng: Tân khoa Trạng nguyên khoa này, thế mà lại là một nữ nhân.
Trở thành Nữ Trạng nguyên danh chính ngôn thuận đầu tiên trong lịch sử, Chúc Huyên bất giác nhớ lại những năm tháng đằng đẵng nàng miệt mài đèn sách. Khi ấy, cánh cửa khoa cử vẫn còn đóng chặt với nữ giới.
Nam tử dùi mài kinh sử là vì công danh bổng lộc, vì giấc mộng "sớm gõ cửa thiên tử đường".
Vậy trong những năm tháng cô độc cúi đầu trên trang sách, trước khi nữ tử được bước vào trường thi, ý nghĩa việc cầu học của Chúc Huyên rốt cuộc là gì?
Có lẽ, chỉ đơn thuần là để chứng đạo — chứng minh con đường của chính nàng.
"Ngoài việc bị người khác lựa chọn, bị sắp đặt số phận, bị gả chồng, sinh con, bị động đi hết một kiếp người đã định sẵn cho nữ tử... Biết đâu, dẫu chỉ là một tia hy vọng mong manh, ta có thể dựa vào tri thức và trí tuệ của chính mình để mở ra một khả năng khác."
"Ta tuy xuất thân phận chim sẻ nơi đồng nội, nhưng lòng vẫn ôm ấp chí lớn bay cao."
Tên khác của truyện: 《Khánh Thiên Thu》
"Huyên thảo mậu trường xuân bất lão, thiên bách chúc thọ bất kỳ."
—— Trích: 《Khánh Thiên Thu》 (Khuyết danh thời Tống)
Ghi chú:
1. Bối cảnh hoàn toàn hư cấu, chế độ khoa cử có sự pha trộn và thiết lập riêng, xin chớ khảo chứng lịch sử.
2. Nữ chính là người bản địa thuần túy, không xuyên không; nhân vật phụ có người xuyên không.
3. Không phải truyện khoa cử thăng cấp nhanh, không nữ cải nam trang. Tuyến chính là hành trình tự thân khám phá, nỗ lực và trưởng thành của nữ chính.
4. Thiết lập nữ tử có thể thi khoa cử diễn ra theo quá trình từ không đến có, nữ chính vừa vặn sống trong giai đoạn chuyển biến mang tính thời đại này. Nửa đầu truyện có nhiều chi tiết điền văn thôn dã và việc học thuở thiếu thời, tiết tấu chậm rãi vững chắc, không có bàn tay vàng quá đà, viết từ khoa cử đến chốn quan trường: hành trình phấn đấu từ thôn nữ bần hàn đến một đời quyền thần.
5. Có tuyến tình cảm nhưng tuyệt đối không lấn át tuyến sự nghiệp. Nữ chính không lùi về chốn hậu trạch.
6. Ý nghĩa nhan đề "Hàn môn": Thời cổ đại, ban đầu "hàn môn" dùng để chỉ các dòng tộc thế gia sa sút, sau thời Ngụy Tấn chuyển sang chỉ những gia đình có hoàn cảnh bần hàn, cơ cực. Tên truyện lấy theo nghĩa thứ hai.